VIÊM TAI GIỮA TIẾT DỊCH
Ở TRẺ EM
I. GIỚI THIỆU
Viêm tai giữa tiết
dịch là bệnh lý diễn tiến âm thầm, không có dấu hiệu và triệu chứng nhiễm trùng
cấp nên có thể dễ dàng bị bỏ sót hoặc chẩn đoán muộn, có khả năng biến chứng
lâu dài ảnh hưởng đến tương lai trẻ dẫn đến nghe kém, rối loạn phát triển ngôn
ngữ, lời nói, học tập và hành vi của trẻ.
Viêm tai giữa tiết
dịch được Politzer đặt tên năm 1884, còn được gọi là viêm tai giữa thanh dịch,
viêm tai giữa dịch nhầy, viêm tai keo. Đây là bệnh lý viêm tai giữa, được xác định
bởi sự hiện diện của dịch tai giữa phía sau màng nhĩ còn nguyên vẹn.
mực nước - hơi sau hòm nhĩ
bóng khí trong màng nhĩ
thanh dịch đầy hòm
nhĩ
II. BỆNH SINH VIÊM
TAI GIỮA TIẾT DỊCH
2.1. Định nghĩa
Viêm tai giữa tiết
dịch OME được xác định bởi sự hiện diện của dịch trong tai giữa nhưng không có
các dấu hiệu hoặc triệu chứng của nhiễm trùng cấp. Khoảng 90% trẻ bị viêm tai
giữa tiết dịch trước tuổi đến trường và trung bình 4 đợt/ 1 năm.
2.2.
Cơ chế bệnh sinh
Viêm tai giữa tiết
dịch là hậu quả của suy thông khí toàn bộ tai giữa gây mất cân bằng khí giữa
thông khí vòi nhĩ và khí khuếch tán qua niêm mạc xương chũm, rối loạn thông khí
này dẫn đến giảm khí hòm nhĩ, là khởi điểm của quá trình viêm tai giữa tiết dịch.
Tắc nghẽn vòi
nhĩ → áp lực (-) → khuếch tán N và O2 vào niêm mạc hòm nhĩ→ dịch rĩ từ niêm mạc
→ phát triển vi trùng.
2.3. Yếu tô nguy cơ viêm tai giữa tiết dịch
· Tuổi:
1 – 4 tuổi chiếm tỷ lệ 75,9%. Viêm tai
giữa tiết dịch giảm dần khi tuổi càng lớn.
· Giải
phẫu vòi nhĩ:
Vòi nhĩ mềm, nằm ngang ở trẻ là yếu tố nguy cơ
viêm tai giữa tiết dịch do dịch và vi trùng từ họng mũi trực tiếp đi vào tai giữa.
· Bất
thường sọ mặt:
Bất thường vòi nhĩ ở trẻ bất thường sọ mặt là
nguyên nhân của viêm tai giữa tiết dịch. Mô học cho thấy mô sụn chưa trưởng
thành của vòi nhĩ ở trẻ hở hàm ếch gây nhiễm trùng tai giữa cao hơn.
· VA:
VA được xem là hồ chứa vi trùng. – VA quá phát
chèn ép vòi nhĩ. – Vì vậy nạo VA là cần thiết.
· Viêm
mũi dị ứng làm phù nề niêm mạc làm giảm khả năng miễn dịch niêm mạc hô hấp
trên, làm cho tai giữa dễ nhiễm trùng hơn.
· Trào
ngược họng thanh quản cho thấy tần xuất gia tăng ở trẻ viêm tai giữa tiết dịch
so với dân số trẻ chung.
III. ĐẶC TRƯNG LÂM SÀNG – CHẨN ĐOÁN VTG TIẾT DỊCH
3.1. Triệu chứng lâm sàng
Các triệu chứng
nhiễm trùng cấp không hiện diện trong viêm tai giữa tiết dịch, triệu chứng duy
nhất có thể có là nghe kém.
Nghe kém tiếp nhận
thần kinh tần số cao tạm thời hoặc vĩnh viễn do các hóa chất trung gian gây
viêm có nồng độ cao trong dịch tiết và xuyên qua màng cửa sổ tròn để vào vòng
đáy ốc tai
IV. ĐIỀU TRỊ
4.1. Điều trị nội khoa:
Kháng sinh,
kháng histamine, chống sung huyết không cho hiệu quả đáng kể trong điều trị
viêm tai giữa tiết dịch
4.2. Phẫu thuật:
4.2.1. Hiệu quả của rạch nhĩ – đặt ống thông nhĩ:
Cải thiện sức
nghe và giảm tỉ lệ viêm tai giữa cấp tái diễn.
Đặt ống thông
nhĩ giúp thông khí hòm nhĩ và cân bằng áp lực trong và ngoài màng nhĩ.
4.2.2. Phẫu thuật nạo VA:
Gia tăng tính hiệu
quả trên lâm sàng khi kết hợp với đặt ống thông nhĩ. Giúp nguy cơ viêm tai giữa tiết dịch tái diễn thấp
V.A quá phát
4.2.3. Chỉ định nạo VA
(theo Phác đồ điều
trị Nhi khoa 2020 của BV NĐ1) – 1
- Trẻ từ 18
tháng tuổi trở lên.
- VA quá phát
gây khó thở
- VA có biến chứng:
viêm tai giữa tái phát, viêm đường hô hấp trên tái phát, viêm phế quản phổi tái
phát, rối loạn tiêu hóa tái phát
4.2.4. Chỉ định chích rạch màng nhĩ+đặt ống
thông nhĩ
(theo Phác đồ điều
trị Nhi khoa 2020 của BV NĐ1)
· Khi
có chẩn đoán xác định VTGTD mạn:
- Màng nhĩ đục,
căng hoặc lõm, kém di động.
- Giảm thính lực
kéo dài > 3 tháng.
- Nhĩ lượng đồ
type B.
·
Nguyên tắc điều trị:
- Thoát lưu dịch.
- Thông khí tốt.
- Tiệt trừ bệnh
nguyên
Đặt
ống thông nhĩ
V. PHÒNG NGỪA
Đối với các trẻ
viêm hô hấp trên xảy ra nhiều lần trong năm, nên có kế hoạch thăm khám tai, sức
nghe định kỳ 3 – 6 tháng 1 lần để có thể phát hiện sớm viêm tai giữa tiết dịch.
Đối với trẻ đã
có viêm tai giữa tiết dịch mạn tính, cần đánh giá nhĩ lượng, sức nghe và cấu
trúc màng nhĩ mỗi 3 – 6 tháng để xác định các cấu trúc này trở lại bình thường
(dịch tiết hòm nhĩ không còn hiện diện, sức nghe bình thường).
Với các trường hợp
dấu hiệu và triệu chứng viêm tai giữa tiết dịch vẫn còn kéo dài, cần có biện
pháp điều trị thích hợp đặc biệt đối với các bất thường của màng nhĩ, nghe kém
và chậm nói và phát triển ngôn ngữ.
Đối với trẻ có
nguy cơ viêm tai giữa tiết dịch để lại các di chứng, phẫu thuật đặt ống thông
nhĩ cần thực hiện khi viêm tai giữa tiết dịch không chịu thoái lui nhanh chóng
(nhĩ lượng type B) hoặc dịch tiết kéo dài ≥ 3 tháng.
TÀI LIỆU
THAM KHẢO
1. Nghiên cứu trong nước
1.
Nguyễn Thị Ngọc Dung, Nguyễn Đình Chương. “Khảo sát tình trạng dị ứng ở bệnh
nhi viêm tai giữa tiết dịch tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 09/2014 đến tháng
04/2015”. Tạp chí Y học (2016) tập 20
(1).
2. Lê Minh Đức (2012) “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và ảnh hưởng của viêm
V.A mạn tính đến chức năng của tai giữa”,
Trường Đại học Y Hà Nội
3. Đặng Xuân
Hùng. Thính học lâm sàng bệnh tai giữa chẩn đoán và xử trí nâng cao. Nhà xuất bản Y học năm 2019.
4. Đặng
Xuân Hùng. Hình ảnh tai xương chũm.
Nhà xuất bản Y học năm 2018.
5. Đặng
Xuân Hùng. Thính học lâm sàng chẩn đoán.
Nhà xuất bản Y học 2018.
6.
Dương Hữu Nghị (2018) “Nghiên cứu tình hình viêm tai giữa thanh dịch ở trẻ mẫu
giáo thành phố cần thơ năm 2013 – 2014”. Tạp
chí Y học (2018)
7. Đặng
Hoàng Sơn (1997) “Xuất độ của viêm tai giữa tiết dịch ở trẻ em huyện Củ Chi”. Số
đặc biệt hội nghị khoa học khoa y lần thứ
XI-trường đại học y dược Thành Phố Hồ Chí Minh.
BS CK2 Nguyên Trần Hải




