Thứ Ba, 21 tháng 2, 2023

 

VIÊM TAI GIỮA TIẾT DỊCH Ở TRẺ EM

 

I. GIỚI THIỆU

Viêm tai giữa tiết dịch là bệnh lý diễn tiến âm thầm, không có dấu hiệu và triệu chứng nhiễm trùng cấp nên có thể dễ dàng bị bỏ sót hoặc chẩn đoán muộn, có khả năng biến chứng lâu dài ảnh hưởng đến tương lai trẻ dẫn đến nghe kém, rối loạn phát triển ngôn ngữ, lời nói, học tập và hành vi của trẻ.

Viêm tai giữa tiết dịch được Politzer đặt tên năm 1884, còn được gọi là viêm tai giữa thanh dịch, viêm tai giữa dịch nhầy, viêm tai keo. Đây là bệnh lý viêm tai giữa, được xác định bởi sự hiện diện của dịch tai giữa phía sau màng nhĩ còn nguyên vẹn.


                                                          mực nước - hơi sau hòm nhĩ

 


bóng khí trong màng nhĩ


thanh dịch đầy hòm nhĩ


II. BỆNH SINH VIÊM TAI GIỮA TIẾT DỊCH

2.1. Định nghĩa

Viêm tai giữa tiết dịch OME được xác định bởi sự hiện diện của dịch trong tai giữa nhưng không có các dấu hiệu hoặc triệu chứng của nhiễm trùng cấp. Khoảng 90% trẻ bị viêm tai giữa tiết dịch trước tuổi đến trường và trung bình 4 đợt/ 1 năm.

 2.2. Cơ chế bệnh sinh

Viêm tai giữa tiết dịch là hậu quả của suy thông khí toàn bộ tai giữa gây mất cân bằng khí giữa thông khí vòi nhĩ và khí khuếch tán qua niêm mạc xương chũm, rối loạn thông khí này dẫn đến giảm khí hòm nhĩ, là khởi điểm của quá trình viêm tai giữa tiết dịch.

Tắc nghẽn vòi nhĩ → áp lực (-) → khuếch tán N và O2 vào niêm mạc hòm nhĩ→ dịch rĩ từ niêm mạc → phát triển vi trùng.

2.3. Yếu tô nguy cơ viêm tai giữa tiết dịch

· Tuổi: 1 – 4 tuổi chiếm tỷ  lệ 75,9%. Viêm tai giữa tiết dịch giảm dần khi tuổi càng lớn.

· Giải phẫu vòi nhĩ:

 Vòi nhĩ mềm, nằm ngang ở trẻ là yếu tố nguy cơ viêm tai giữa tiết dịch do dịch và vi trùng từ họng mũi trực tiếp đi vào tai giữa.

· Bất thường sọ mặt:

 Bất thường vòi nhĩ ở trẻ bất thường sọ mặt là nguyên nhân của viêm tai giữa tiết dịch. Mô học cho thấy mô sụn chưa trưởng thành của vòi nhĩ ở trẻ hở hàm ếch gây nhiễm trùng tai giữa cao hơn.

· VA:

 VA được xem là hồ chứa vi trùng. – VA quá phát chèn ép vòi nhĩ. – Vì vậy nạo VA là cần thiết.

· Viêm mũi dị ứng làm phù nề niêm mạc làm giảm khả năng miễn dịch niêm mạc hô hấp trên, làm cho tai giữa dễ nhiễm trùng hơn.

· Trào ngược họng thanh quản cho thấy tần xuất gia tăng ở trẻ viêm tai giữa tiết dịch so với dân số trẻ chung.

III. ĐẶC TRƯNG LÂM SÀNG – CHẨN ĐOÁN VTG TIẾT DỊCH

3.1. Triệu chứng lâm sàng

Các triệu chứng nhiễm trùng cấp không hiện diện trong viêm tai giữa tiết dịch, triệu chứng duy nhất có thể có là nghe kém.

Nghe kém tiếp nhận thần kinh tần số cao tạm thời hoặc vĩnh viễn do các hóa chất trung gian gây viêm có nồng độ cao trong dịch tiết và xuyên qua màng cửa sổ tròn để vào vòng đáy ốc tai

IV. ĐIỀU TRỊ

4.1. Điều trị nội khoa:

Kháng sinh, kháng histamine, chống sung huyết không cho hiệu quả đáng kể trong điều trị viêm tai giữa tiết dịch

4.2. Phẫu thuật:

4.2.1. Hiệu quả của rạch nhĩ – đặt ống thông nhĩ:

Cải thiện sức nghe và giảm tỉ lệ viêm tai giữa cấp tái diễn.

Đặt ống thông nhĩ giúp thông khí hòm nhĩ và cân bằng áp lực trong và ngoài màng nhĩ.

4.2.2. Phẫu thuật nạo VA:

Gia tăng tính hiệu quả trên lâm sàng khi kết hợp với đặt ống thông nhĩ. Giúp  nguy cơ viêm tai giữa tiết dịch tái diễn thấp


V.A quá phát

4.2.3. Chỉ định nạo VA

(theo Phác đồ điều trị Nhi khoa 2020 của BV NĐ1) – 1

- Trẻ từ 18 tháng tuổi trở lên.

- VA quá phát gây khó thở

- VA có biến chứng: viêm tai giữa tái phát, viêm đường hô hấp trên tái phát, viêm phế quản phổi tái phát, rối loạn tiêu hóa tái phát

 

4.2.4. Chỉ định chích rạch màng nhĩ+đặt ống thông nhĩ

(theo Phác đồ điều trị Nhi khoa 2020 của BV NĐ1)

· Khi có chẩn đoán xác định VTGTD mạn:

- Màng nhĩ đục, căng hoặc lõm, kém di động.

- Giảm thính lực kéo dài > 3 tháng.

- Nhĩ lượng đồ type B.

· Nguyên tắc điều trị:

- Thoát lưu dịch.

- Thông khí tốt.

- Tiệt trừ bệnh nguyên


                                                Đặt ống thông nhĩ             


V. PHÒNG NGỪA

Đối với các trẻ viêm hô hấp trên xảy ra nhiều lần trong năm, nên có kế hoạch thăm khám tai, sức nghe định kỳ 3 – 6 tháng 1 lần để có thể phát hiện sớm viêm tai giữa tiết dịch.

Đối với trẻ đã có viêm tai giữa tiết dịch mạn tính, cần đánh giá nhĩ lượng, sức nghe và cấu trúc màng nhĩ mỗi 3 – 6 tháng để xác định các cấu trúc này trở lại bình thường (dịch tiết hòm nhĩ không còn hiện diện, sức nghe bình thường).

Với các trường hợp dấu hiệu và triệu chứng viêm tai giữa tiết dịch vẫn còn kéo dài, cần có biện pháp điều trị thích hợp đặc biệt đối với các bất thường của màng nhĩ, nghe kém và chậm nói và phát triển ngôn ngữ.

Đối với trẻ có nguy cơ viêm tai giữa tiết dịch để lại các di chứng, phẫu thuật đặt ống thông nhĩ cần thực hiện khi viêm tai giữa tiết dịch không chịu thoái lui nhanh chóng (nhĩ lượng type B) hoặc dịch tiết kéo dài ≥ 3 tháng.


 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nghiên cứu trong nước

1. Nguyễn Thị Ngọc Dung, Nguyễn Đình Chương. “Khảo sát tình trạng dị ứng ở bệnh nhi viêm tai giữa tiết dịch tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 09/2014 đến tháng 04/2015”. Tạp chí Y học (2016) tập 20 (1). 

2. Lê Minh Đức (2012) “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và ảnh hưởng của viêm V.A mạn tính đến chức năng  của tai giữa”, Trường Đại học  Y Hà  Nội

3. Đặng Xuân Hùng.  Thính học lâm sàng bệnh tai giữa chẩn đoán và xử trí nâng cao. Nhà xuất bản Y học năm 2019.

4. Đặng Xuân Hùng. Hình ảnh tai xương chũm. Nhà xuất bản Y học năm 2018.

5. Đặng Xuân Hùng. Thính học lâm sàng chẩn đoán. Nhà xuất bản Y học 2018.

6. Dương Hữu Nghị (2018) “Nghiên cứu tình hình viêm tai giữa thanh dịch ở trẻ mẫu giáo thành phố cần thơ năm 2013 – 2014”. Tạp chí Y học (2018)

7. Đặng Hoàng Sơn (1997) “Xuất độ của viêm tai giữa tiết dịch ở trẻ em huyện Củ Chi”. Số đặc biệt hội nghị khoa học khoa y lần thứ XI-trường đại học y dược Thành Phố Hồ Chí Minh.

BS CK2 Nguyên Trần Hải